Thanh Hoá: Nên giữ tên làng cổ khi sáp nhập

Làng là nơi chôn nhau cắt rốn của mỗi người. Bao ký ức của những năm tháng tuổi thơ ùa về mỗi khi ta nói về làng.
nha-van-hoa-lang-trung-tu-theo-kien-truc-dinh-lang-thay-the-dinh-lang-bi-bom-tan-pha-thoi-ky-chien-tranh-1782190566.jpg
Nhà văn hoá làng trùng tu theo kiến trúc đình làng thay thế Đình làng bị bom tàn phá thời kỳ chiến tranh

Quê gốc tôi ở làng Đoài Thôn, xã Hoạt Giang, tỉnh Thanh Hoá. Gia đình tôi hiện đang cư trú tại thôn 6, xã Hà Trung (Thanh Hóa). Từ những câu chuyện của người lớn kể lại tôi mới biết: Làng cổ Đoài Thôn có từ lâu đời. Tôi vẫn hiểu làng là một cộng đồng cư dân gắn bó lâu đời, đồng thời từng là đơn vị quản lý cơ sở trong xã hội truyền thống Việt Nam.

Mỗi làng đều mang một cái tên với sắc thái riêng để phân biệt với làng khác. Tên làng có xuất xứ hay điển tích mà người đã có công khai phá lập ra làng đặt tên cho làng. Tên làng cổ thường gắn với lịch sử hình thành, địa danh hoặc truyền thuyết dân gian, ví dụ: làng Trạch Lâm, làng Cẩm Tân, làng Phú Dương...

mot-trong-nhung-gieng-co-cua-lang-1782190566.webp
Giếng cổ của làng

Thế hệ như chúng tôi được sinh ra từ làng. Làng được hiểu là một thực thể, tế bào của xã hội, ở đó có một hay nhiều cộng đồng dân cư để hình thành nên từng đơn vị hành chính ở mỗi địa phương. Lịch sử làng, xã đã chép, “làng” nhỏ hơn “tổng”. Nhưng dù to hay nhỏ, “làng” xưa nay vẫn là đơn vị lớn hơn thôn, xóm, ngõ...bởi hương ước, quy ước của làng quy định.

Trước đây, ở quê tôi có hàng chục ngôi làng cổ như: Cao Lũng, Đoài Thôn, Đồng Truyền, Đông Thôn, Thổ Khối, Cẩm La, Cẩm Tân, Phú Dương, Trạch Lâm, Trung Tiến, Bỉm Sơn, Vận tải Đoàn Kết...Quá trình tồn tại, phát triển có sự thay đổi về hành chính, địa giới. Khi thành lập thị trấn rồi thị xã Bỉm Sơn, một số làng của xã Hà Dương chuyển về đơn vị mới, tên làng cũng thay đổi theo quyết định của cấp có thẩm quyền.

ben-song-hoat-dang-duoc-xay-dung-lai-bang-ket-cau-vat-lieu-ben-vung-phuc-vu-sinh-hoat-hang-ngay-cua-dan-lang-1782190566.jpg
Bến sông Hoạt đang được xây dựng lại bằng kết cấu vật liệu bền vững, phục vụ sinh hoạt hàng ngày của dân làng

Đoài Thôn là một làng nhỏ, ít hộ dân, không có thôn, xóm mà chỉ có "ngõ". Từng ngõ lấy tên của một chủ hộ ngay đầu ngõ để gọi tên cho ngõ.

Ở làng cổ Cao Lũng (cùng xã) đông dân cư nên có các xóm nhỏ như: xóm Đông ở cuối làng và nhiều ngõ nhỏ, mỗi ngõ đồng thời là một đội hoặc tổ sản xuất của hợp tác xã nông nghiệp. Từ khi lấy "thôn" làm đơn vị dưới cấp xã theo quyết định của nhà nước, làng Đoài Thôn gọi là "thôn 1", nay vẫn gọi như thế. Trên thực tế đã có các trường hợp lấy tên số học để đặt tên cho thôn mới thành lập mà không lấy tên làng cũ. Bên cạnh tên gọi hành chính hiện nay, việc gìn giữ tên làng cổ trong đời sống cộng đồng, trong các hoạt động văn hóa và ký ức dân gian là điều rất đáng trân trọng.

cau-cu-cay-cau-sat-bac-qua-song-hoat-giang-dau-lang-doai-thon-noi-lien-tuyen-giao-thong-huyet-mach-bac-nam-1782190566.jpg
Cầu Cừ, cây cầu sắt bắc qua sông Hoạt Giang, đầu làng Đoài Thôn, nối liền tuyến giao thông huyết mạch Bắc-Nam

Bởi vậy, giữ lấy tên cũ của làng như: thôn Đông Thôn, Thổ Khối, Cẩm La...để đặt tên cho đơn vị hành chính mới là việc đáng làm. Tên làng xưa vừa gợi nét cổ vừa quen thuộc lại giữ được bản sắc văn hóa và giá trị lịch sử lâu đời của làng.

Làng là nơi chôn nhau cắt rốn của mỗi người. Bao ký ức của những năm tháng tuổi thơ ùa về mỗi khi ta nói về làng. Nhớ hồi còn nhỏ theo ông nội ra Đình làng, Văn chỉ (nơi thờ vọng Khổng Tử, người sáng lập ra Đạo Nho giáo của người Trung Hoa).

Chiến tranh và bão lụt tàn phá nên Đình làng và Văn chỉ không còn. Toạ lạc trên một khoảnh đất đẹp bằng phẳng, Văn chỉ là một ban thờ lộ thiên, bài trí đơn giản, nhưng trang nghiêm. Xuân thu nhị kỳ, các cụ cao tuổi trong làng chỉnh tề áo the khăn xếp đến Văn chỉ lễ bái sau khi đã thắp hương kính cáo với vị thần hoàng làng ở ngôi Đình chung...

luy-tre-lang-co-bao-ve-lang-hien-con-luu-giu-1782190566.jpg
Luỹ tre làng cổ bảo vệ làng hiện còn lưu giữ

Qua những mẩu truyện dân gian truyền lại, người của một dòng họ đầu tiên đến khai phá lập làng, trồng lúa nước, mở mang ngành nghề...được mọi người tôn làm Thành hoàng của làng. Ngài được thờ ở gian giữa hậu cung đình làng. Ngoài vị thành hoàng là người bản địa, đình làng còn thờ một trong các anh hùng, hào kiệt, danh nhân, danh sĩ...đã có công dẹp giặc, dựng xây đất nước, quê hương.

Con sông Hoạt hiền hòa, là "phong thủy" phía trước làng, muôn đời vẫn chảy, như một lợi thế tự nhiên ban tặng cho làng, quanh năm đem nước ngọt tưới mát những cánh đồng, phù sa bồi đắp làm nên những mùa vàng trĩu hạt. Năm bến sông ngày ấy…chỉ là những phiến đá tảng thô không đẽo gọt đặt cạnh nhau dùng để làm chỗ ngồi giặt giũ, tắm rửa...

Tôi chỉ nhớ mang máng, mỗi bến sông mộc mạc giản dị ấy, người nơi đây đã “ngẫu hứng” lấy tên tục (huý) một chủ nhà gần bến hay tên một cây cổ thụ trên bến để đặt tên cho bến như: bến ông Tuần, bến ông An, bến ông Bào, bến ông Hồng (hay bến Cây gạo), bến ông Cửu (hay bến ông Đễ). Những cây đa, cây bàng, cây gạo cổ thụ nhanh chóng xua tan cái nắng mùa hè gay gắt mỗi khi ta ngồi trên bến sông quê tắm giặt, dành một chút thư thái thả hồn ngắm nhìn cảnh vật trời mây sông nước bao la.

Trải bao năm tháng, cảnh quan kiến trúc, diện mạo làng quê cổ từng ngày đổi khác. Bến sông xưa giản dị mộc mạc ấy giờ đây đã khoác trên mình "chiếc áo mới" đẹp mắt. Cảnh vật ấy như có sức hấp dẫn kỳ lạ níu kéo những người con dù có đi đâu ở đâu cũng mong có dịp được trở về với bến sông quê...

Hàng năm, tại đình làng, vào dịp Tết Nguyên Đán, làng mở hội đầu xuân. Bên trong ngôi đình, với sự góp mặt của các cụ cao niên và người dân. Các nghi thức phần lễ diễn ra lặng lẽ trang nghiêm.

Mọi người thành kính dâng hương hoa phẩm vật, tri ân công đức thần hoàng, các vị tiền nhân có công với nước, với làng; cầu mong một năm mới mưa thuận gió hòa mùa màng bội thu, đem lại ấm no hạnh phúc.

Ngoài sân đình, phần hội rộn ràng tiếng loa tiếng trống phụ hoạ cho những màn diễn xướng, các làn điệu dân ca, dân vũ, trò chơi dân gian của đám trai làng gái làng và các em thiếu nhi trình diễn. Đông đảo nhân dân cổ vũ động viên khiến cho không khí hội làng đầu năm sôi động, náo nhiệt cả một vùng trời đất.

Làng còn có một ngôi đền thờ thần linh gọi là “đền cây đa” hay “cây đa đền”. Cây đa cổ thụ trùm lên ngôi đền toả bóng mát quanh năm. Ngài có công đánh giặc được phong tước vị Quận công, tên là Hải Liêm. Không có tư liệu thành văn, chỉ nghe người làng truyền lại từ đời này qua đời khác về ông.

Ông cũng là vị thần hoàng có công lập ra làng Đoài Thôn bây giờ. Đền thờ toạ lạc trên một khoảnh đất cao xung quanh là cánh đồng lúa bát ngát, thảm thực vật bao quanh. Cách làng chừng ba trăm mét, ngôi đền cổ hàng trăm năm tuổi bị bão lụt, máy bay giặc ném bom tàn phá chỉ còn lại đống đổ nát…Bà C, một người con của làng với lòng hằng tâm, hằng sản cùng một số người đã công đức xây dựng lại ngôi đền, quanh năm hương khói tri ân vị thần đã có công với nước, với làng…

Nhớ về làng. Trong tâm thức người Việt, ai sinh ra từ làng cũng luôn luôn nhớ về làng, mong muốn làng ngày càng phát triển giàu đẹp, văn minh. Hình ảnh quen thuộc thân thương “luỹ tre làng”, “đình làng”, “giếng làng”, “đường làng”,  “về làng”, “đẹp bức tranh làng”, “hồn làng”…từ thuở cha ông lập làng đến bây giờ vẫn còn nguyên giá trị, và làng tồn tại mãi trong ký ức, trái tim của mỗi người.

Bảo tồn và phát huy giá trị di sản, giữ gìn bản sắc văn hoá, truyền thống lịch sử vẻ vang của làng Việt cổ là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, cấp thiết ở các địa phương, góp phần quan trọng vào thành tựu mới trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.