Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng có lẽ thuộc về trường hợp thứ hai.
Trên hành lang khoảng 40 km, từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở, Hà Nội đang lấy ý kiến về Đề án điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỷ lệ 1/5.000 để thực hiện dự án. Với diện tích nghiên cứu khoảng 11.418 ha, đi qua 9 xã và 7 phường, đây không còn là câu chuyện mở thêm một tuyến giao thông ven sông. Nó là một cuộc tái cấu trúc không gian đô thị ở quy mô đặc biệt lớn, đồng thời là phép thử đối với năng lực của Hà Nội trong việc biến một dòng sông từng bị xem như “mặt sau” của đô thị thành một “mặt tiền” mới.

Một góc trục đại lộ cảnh quan sông Hồng: một trong 9 động lực phát triển của Thủ đô. Ảnh: Chinhphu.vn
Từ “bờ sông bị bỏ quên” đến mặt tiền mới của Thủ đô
Theo lộ trình được đề xuất, quá trình thực hiện kéo dài từ năm 2026 đến 2038. Giai đoạn 2026-2030 sẽ ưu tiên trục đại lộ hai bên sông, kè và chỉnh trị lòng, bờ sông, một số công viên, khu vực “Phòng khách đô thị”, các khu đô thị định cư tại Lĩnh Nam, Long Biên cùng những dự án giải phóng mặt bằng độc lập. Từ năm 2030 đến 2038, các dự án thành phần còn lại sẽ tiếp tục được hoàn thiện.
Như vậy, câu trả lời ngắn gọn cho câu hỏi “bao giờ thành hiện thực?” là: Sớm nhất từ 2026 bắt đầu bước vào giai đoạn triển khai, nhưng một diện mạo tương đối hoàn chỉnh phải chờ đến cuối thập niên 2030.
Tuy nhiên, với một dự án có quy mô như vậy, “khởi công” chưa bao giờ đồng nghĩa với “thành hiện thực”.
Thành hiện thực ở đây phải là lúc những đường nét trên bản đồ trở thành một không gian mà người dân thực sự sử dụng, yêu thích và nhận diện như một phần của Hà Nội.
Điều đáng chú ý trong đề án lần này là sông Hồng được nhìn nhận không chỉ dưới góc độ thủy văn hay giao thông mà như một cấu trúc tổng hợp gồm an toàn, sinh thái, giao thông, kinh tế, chức năng đô thị và văn hóa - văn minh.
Đó là cách tiếp cận cần thiết.
Bởi Hà Nội đã phát triển rất nhanh nhưng trong một thời gian dài, dòng sông Hồng vẫn chưa thực sự trở thành một bộ phận hữu cơ của đời sống đô thị. Nhiều khu vực ven sông tồn tại như những khoảng trống giữa đê và đô thị; trong khi các làng xóm, làng nghề, bãi bồi và những không gian lịch sử lại phát triển theo những nhịp điệu gần như riêng biệt.
Đề án mới đặt tham vọng kết nối những mảnh ghép ấy.
Trục Tả Hồng dài khoảng 35 km và trục Hữu Hồng dài khoảng 45,35 km được định hướng là các trục chính đô thị với phần đường chính 6 làn xe. Mạng lưới 17 cầu đường bộ, gồm 6 cầu hiện hữu, 6 cầu đang triển khai và 5 cầu quy hoạch, sẽ tăng cường kết nối hai bờ. Đường sắt quốc gia, 11 tuyến đường sắt đô thị, giao thông thủy và hệ thống giao thông công cộng cũng được tính toán trong một cấu trúc liên hoàn.
Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, đây vẫn chủ yếu là một dự án hạ tầng.
Giá trị đặc biệt của trục sông Hồng nằm ở phần không thể đo bằng làn xe.
Đó là chuỗi công viên dọc bãi sông; những trục xanh Đông - Tây; các công viên bảo tồn tự nhiên tại vùng thường xuyên ngập nước; những vùng đệm giữa khu đô thị cao tầng và làng xóm; những không gian văn hóa gắn với cầu Long Biên, trục Hồ Tây - Cổ Loa; cùng các làng nghề được định hướng bảo tồn và khai thác phục vụ du lịch sinh thái.
Nếu thực hiện đúng tinh thần này, sông Hồng sẽ không còn là một “khoảng cách” cần vượt qua mà trở thành một không gian công cộng khổng lồ của Hà Nội.
Đó mới là cuộc cách mạng thật sự của dự án.
Trong một đô thị ngày càng thiếu không gian mở, một chuỗi công viên ven sông không chỉ có giá trị cảnh quan. Nó tạo ra nơi người dân đi bộ, thể thao, vui chơi, gặp gỡ và tiếp xúc với thiên nhiên. Một thành phố văn minh không chỉ được nhận diện bằng những tòa nhà cao tầng mà còn bằng khả năng dành lại không gian cho con người.
Bởi vậy, “Phòng khách đô thị” ở đoạn từ cầu Thăng Long đến cầu Thanh Trì là một ý tưởng đáng chú ý. Với diện tích khoảng 4.548 ha và quy mô dân số dự kiến khoảng 541.000 người, khu vực trung tâm này được định hướng tập trung các chức năng công cộng, văn hóa, thương mại, dịch vụ và cảnh quan.
Nhưng “phòng khách” của một đô thị không thể chỉ là nơi đặt những công trình điểm nhấn.
Một “phòng khách” đúng nghĩa phải là nơi người dân muốn đến và có thể ở lại. Nơi đó phải có bóng cây, mặt nước, hoạt động văn hóa, không gian đi bộ, nghệ thuật công cộng, ký ức địa phương và những hoạt động đời thường. Nếu chỉ xây những khối nhà lớn rồi gọi đó là điểm nhấn đô thị, chúng ta sẽ có một trung tâm mới nhưng chưa chắc có một “phòng khách” mới.
Và đó chính là ranh giới giữa quy hoạch một không gian với kiến tạo một đời sống đô thị.
Thách thức lớn nhất không nằm ở những con đường, mà ở cách giữ lại “hồn sông”
Có lẽ phần khó nhất của dự án không phải là xây 6 làn đường, làm cầu hay dựng công viên. Phần khó nhất là xử lý mối quan hệ giữa đô thị mới và những cộng đồng đã tồn tại ở đây qua nhiều thế hệ.
Hồ sơ quy hoạch rà soát 12 cụm làng nghề với tổng diện tích khoảng 1.067 ha. Trong đó, 8 cụm làng được cải tạo, chỉnh trang có chọn lọc; 2 cụm tái thiết và 2 cụm di dời theo quy hoạch phòng chống lũ.
Đây là con số kỹ thuật, nhưng đằng sau mỗi con số là một cộng đồng.
Một làng không chỉ là tập hợp những căn nhà. Làng còn có đình, chùa, giếng nước, nghề nghiệp, dòng họ, ký ức, tập quán và mạng lưới quan hệ xã hội. Với làng nghề, đó còn là tri thức thủ công được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Nếu đô thị hóa chỉ giữ lại một vài cổng làng, một mái đình hay vài ngôi nhà cổ để làm “điểm nhấn văn hóa”, thì đó mới chỉ là bảo tồn hình thức. Văn hóa chỉ thực sự sống khi cộng đồng còn sống cùng nó.
Bát Tràng là một trường hợp đặc biệt. Giá trị của Bát Tràng không nằm ở việc người ta có thể chụp một bức ảnh đẹp về một làng nghề cổ, mà ở chỗ nghề gốm vẫn đang tạo ra sinh kế, sản phẩm, thương hiệu và câu chuyện văn hóa cho cộng đồng.
Bài toán của trục sông Hồng vì thế không phải là “giữ nguyên” hay “xóa bỏ” làng xóm. Bài toán khó hơn: Thay đổi mà không làm mất căn tính; hiện đại hóa mà không biến văn hóa thành vật trưng bày.
Đề án đặt ra những vùng đệm giữa khu đô thị cao tầng và làng xóm. Các khu cao tầng được tổ chức theo tuyến, mật độ thấp và giảm chiều cao về phía đê nhằm bảo đảm tầm nhìn và vi khí hậu. Đây là những giải pháp đáng hoan nghênh, bởi chúng tạo ra sự chuyển tiếp thay vì áp đặt một hình thái đô thị lên một không gian làng truyền thống.
Nhưng quy hoạch tốt mới chỉ là điều kiện cần.
Điều kiện đủ nằm ở quá trình triển khai.
Một dự án kéo dài 12 năm, với 18 dự án thành phần, chắc chắn sẽ phải đối diện với hàng loạt vấn đề: nguồn lực đầu tư, giải phóng mặt bằng, tái định cư, lợi ích của người dân, lợi ích của nhà đầu tư, yêu cầu phòng chống lũ, bảo vệ môi trường và sự thay đổi của thị trường bất động sản.
Đặc biệt, cần tránh một nghịch lý: Dự án được gọi là “cảnh quan” nhưng giá trị cảnh quan lại bị đẩy xuống hàng thứ yếu sau phát triển bất động sản.
Bởi một khi các khu cao tầng trở thành động lực chính, rất dễ xảy ra tình trạng không gian ven sông bị thương mại hóa quá mức. Khi ấy, những công viên công cộng có nguy cơ trở thành phần “đệm” cho các dự án bất động sản thay vì là tài sản chung của đô thị.
Hà Nội cần một nguyên tắc rất rõ: Sông Hồng trước hết phải là không gian công cộng, sinh thái và văn hóa; giá trị thương mại phải phục vụ cấu trúc ấy, chứ không thể ngược lại.
18 dự án thành phần, gồm 2 dự án giao thông, 11 dự án công viên, 2 dự án kè và chỉnh trị lòng, bờ sông và 3 dự án khu đô thị định cư, cho thấy đây là một chương trình phát triển đô thị khổng lồ. Thành công của nó vì thế không thể chỉ được đánh giá bằng số kilomet đường hoàn thành hay số công viên được xây dựng.
Thước đo cuối cùng phải là chất lượng sống.
Người dân có thể tiếp cận bờ sông dễ dàng không? Có thể đi bộ liên tục trong những không gian xanh không? Các làng nghề có thực sự sống được bằng nghề không? Các cộng đồng phải di dời có được tái định cư với chất lượng sống tốt hơn không? Không gian văn hóa có được bảo tồn trong đời sống thực hay chỉ tồn tại trên hồ sơ? Và quan trọng nhất, Hà Nội có tạo được một quan hệ mới, văn minh hơn với dòng sông hay không?
Nếu câu trả lời là có, khi đó Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng mới thực sự thành hiện thực.
Còn nếu chỉ có những con đường mới, những cây cầu mới và những tòa nhà mới, thì dự án mới chỉ hoàn thành phần “xây dựng”.
Một dòng sông không cần thêm một mặt tiền hào nhoáng. Hà Nội cần một mặt tiền có ký ức, có sinh thái và có con người.
Theo lộ trình, năm 2026 là điểm bắt đầu của một chặng đường dài và năm 2038 là mốc dự kiến hoàn thành các dự án thành phần. Nhưng với một công cuộc tái cấu trúc đô thị lớn như vậy, 12 năm có thể đủ để xây dựng hạ tầng, song chưa chắc đủ để hình thành một nền văn hóa đô thị mới bên sông.
Bởi công trình có thể hoàn thành theo tiến độ, còn ký ức thì cần thời gian.
Nếu Hà Nội kiên trì nguyên tắc phát triển hài hòa với nước, đặt sinh thái và không gian công cộng ngang hàng với giao thông, coi văn hóa là cấu phần của quy hoạch chứ không phải lớp trang trí, thì đến cuối thập niên 2030, thành phố có thể không chỉ có một đại lộ mới.
Hà Nội có thể có một bờ sông mới. Và rộng hơn, có thể có một cách mới để người Hà Nội nhìn về dòng sông đã chứng kiến lịch sử thành phố suốt hàng nghìn năm.
Đó mới là ý nghĩa lớn nhất của dự án.
V.X.B