Lịch sử Việt Nam (Từ tiền sử đến năm 2007) (Kỳ 64)

Trân trọng giới thiệu sách “Lịch sử Việt Nam (Từ tiền sử đến năm 2007)” của PGS TS Cao Văn Liên do NXB Thanh niên ấn hành.

Kỳ 64.

Các nhà thơ mới đã đi theo kháng chiến để làm “Chiến sĩ” trên mặt trận văn hoá như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Cù Huy Cận, Phạm Huy Thông, Lưu Trọng Lư và ra đời nhiều kiệt tác để phục vụ nhân sinh, kiên quyết đoạn tuyệt với dĩ vãng xưa, đi theo và xây dựng một nền văn hoá mới. Văn chương thời kháng  chiến chống thực dân Pháp đã khơi dòng cho một dòng văn chương thời kháng chiến chống Mỹ (1954-1975). Văn xuôi thời chống Mỹ gắn với tên tuổi các nhà văn Anh Đức với “Hòn đất”,  Chu Lai,  Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Đào Vũ, Lê Lựu, Nguyễn Đình Thi . . . Văn xuôi thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới có Ma Văn Kháng, Lê Thị Minh Khuê, Chu Văn,  nhà văn trẻ mới nổi danh Nguyễn Ngọc Tư với “Cánh đồng bất tận”.

b1abc1-1677398429.jpg

Các văn nghệ sĩ trong kháng chiến chống Pháp ở Thái Nguyên (hàng đầu từ trái qua phải là Nguyễn Đình Thi, Thế Lữ, Tố Hữu, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân). Nguồn: Internet.

Thơ  thời chống  Mỹ hoà với văn xuôi tạo nên một bản anh hùng ca ca ngợi cuộc kháng chiến lâu dài nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Các nhà thơ Tế Hanh, Lê Anh Xuân, Giang Nam, Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Dương Hương Ly, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hữu Thỉnh, Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh. . .  là những  thi nhân tiêu biểu. Cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã khai sinh và nuôi lớn  một dòng văn chương mới, dòng văn chương phục vụ nhân dân, phục vụ dân tộc, một trong những nhân tố mang lại cho quân dân ta sức mạnh tinh thần, từ đó biến thành sức mạnh vật chất chiến thắng quân thù,  xây dựng cuộc sống mới. Văn chương thời kỳ hiện đại vì thế không chỉ là văn học nghệ thuật mà còn mang yếu tố sử thi, thấm đượm lịch sử dân tộc hào hùng nhưng đầy hi  sinh, máu và nước mắt    Cùng với văn chương của dân tộc, văn học nghệ thuật của các dân tộc thiểu số  cũng phát triển. Đội ngũ văn nghệ sĩ của 53 thành phần dân tộc người thiểu số ngày càng đông đảo, nhiều tác phẩm có giá trị ra đời. Chỉ tính 4 năm từ năm 2003 đến năm 2007 có 281 tác phẩm được nhận giải thưởng của Hội văn nghệ dân tộc, của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số và nhiều giải thưởng quốc gia, quốc tế. Văn thơ của các dân tộc thiểu số có bản sắc riêng, có đóng góp đáng kể vào sự phát triển của nền văn học nước nhà với nhiều thể loại phong phú. Việc sưu tầm nghiên cứu văn hoá dân gian các dân tộc thiểu số được đẩy mạnh và kết quả đã ra đời hàng trăm công trình sưu tầm, biên soạn văn hoá dân gian của các dân tộc Tây Nguyên, Chăm, Tày,  Nùng , Mông , Thái . . .

Nghệ thuật sân khấu với những kịch gia xuất sắc như  Đào Hồng Cẩm, Lưu Quang Vũ, Tào Mạt, Học Phi.v.v. Nghệ thuật điện ảnh cũng không ngừng lớn mạnh và gặt hái được nhiều thành công. Trong kháng chiến chống Pháp ta đã sản xuấtt đựơc 15 bộ phim tài liệu. Từ 1954 đến năm 2007 nhiều bộ phim có giá trị cao về nội dung và nghệ thuật  ra đời như “Đầu sóng ngọn  gió” (1966), “Luỹ thép Vĩnh Linh” (1971), “Tiếng nổ sau chiến tranh” (1976),  “Vĩnh biệt khách không mời” (1973 ) của đạo diễn Ngọc Quỳnh,  “Con mèo “ (1965),  “Con sáo biết nói”, “Những chiếc áo ấm” (1968), “Chuyện ông Gióng”, “Thạch Sanh” (1976) của đạo Diễn Ngô Mạnh Lân. “Vĩ tuyến 17 ngày và đêm” (1972 ), “Thành phố lúc rạng đông” (1975 ), “Người chiến sĩ trẻ”, “Rừng o Thắm” (1967 ),  “Em bé Hà Nội”, (1974 ), “Mối tình đầu” (1977 ), “Đất mẹ” (1980), “Bãi biển đời người” (1983) của đạo diễn Nghệ sĩ nhân dân Hải Ninh, “Làng nổi” (1965 ), “Khói” (1967), “Chuyện vợ chồng anh Lực” (1971 ), “Đến hẹn lại lên” (1974 ), “Chuyến xe bão táp” (1977), “Những người đã gặp” của đạo diễn Trần Vũ,  “Nước về Bắc Hưng Hải” (1959), “Nguyễn Văn Trỗi sống mãi” (1965) “Nguyễn Ái Quốc đến với Lê Nin” (1979 ), “Đường về quê mẹ” (1971 ), “Hoa thiên Lý” (1973 ) của đạo diễn nghệ sĩ nhân dân Bùi Đình Hạc. “Lửa trung tuyến” (1961), “Một ngày đầu thu” (1962), “Kim đồng” (1964), “Mùa gió chướng” (1978 ), “Cánh đồng hoang” (1980), “Vùng gió xoáy” (1981) của đạo diễn nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Hồng Sến. “Trần Quốc Toản ra quân” (1971),  ”Người về đồng cói” (1973, “Ngày lễ thánh” (1976), “Câu chuyện” làng dừa” (1977), “Người chưa biết nói” (1979), “Ai giận ai thương” (1982) của nữ  đạo diễn Bạch Diệp. Điện ảnh trong thời kỳ đổi mới bắt đầu đi vào những góc cạnh đa dạng của cuộc sống thời mở cửa, Năm 2003 có nhiều phim dự giải Hội điện ảnh Việt Nam: Phim  “Hải Âu”, “Vai diễn đầu đời”, “Hướng nghiệp”, “Ngoại tình” của hãng phim truyện Thành phố Hồ Chí Minh, “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công” của hãng phim Hội nhà văn Việt Nam, “Đêm Bến Tre” của điện ảnh quân đội, “Người đàn bà mộng du” của Hãng phim truyện Việt Nam, “Biên đội” của Hãng phim truyện Giải phóng. Từ 2003 đến 2007 điện ảnh Vịêt Nam đang cố gắng tìm tòi những bước đi mới và nhiều phim đã gây tiếng vang. Phim “Võ lâm truyền kỳ” của hãng Phim Phước Sang , “Trai nhảy” của Hãng phim Thiên Ngân, “Chuông reo là bắn”  của hàng phim Giải phóng, “Dòng máu anh hùng” của hãng phim Chánh Phương. Đặc biệt phim “áo lụa Hà Đông” của Hội điện ảnh Việt Nam  đạt giải Cánh diều vàng 2007 và nhiều giải thưởng giá trị khác. Điện ảnh tư nhân trong thời kỳ này dù nhiều khó khăn trở ngại cũng đã góp phần làm đặc sắc thêm nền địện ảnh nước nhà. Nhìn chung dù có bước phát triển nhưng điện ảnh Việt Nam chưa phản ánh được những góc cạnh phức tạp trong chuyển mình của đất nước khi đi vào nền kinh tế thị trường, chưa hội nhập được với điện ảnh thế giới.  Mảng đề tài phim lịch sử đem lại cho người xem tri thức lịch sử dân tộc, mang tính giáo dục cao bởi tính triết lý cụ thể của nó hầu như còn bỏ trống, nhường  thị trường và màn ảnh cho phim nước ngoài tràn ngập.

(Còn nữa)

CVL