Trống đồng là nhạc khí hay "Thần Đồng" biểu tượng vật linh!

Dương Đình Minh Sơn

04/09/2022 15:34

Qua đầu đề của bài viết đã phát lộ ra hai khái niệm về chức năng của hai tên gọi: trống đồng và Thần Đồng. Ở đây, trống đồng là "vật thể" - thứ nhạc khí thuộc bộ gõ do con người điều khiển, còn Thần Đồng là "phi vật thể" biểu tượng vật linh phò trợ, giúp sức bảo vệ vương quyền - nhà vua.

trong-dong1-1662280041.jpg
Nhạc sĩ Dương Đình Minh Sơn

 

Bài viết sẽ làm sáng rõ hai khái niệm ấy. Sự khác biệt về trống đồng hiện vật- thứ nhạc khí là nằm ở tỷ lệ kim loại thiếc - thiếc tạo độ vang, âm thanh trong và đẹp, còn Thần Đồng là nằm ở tỷ lệ kim loại chì-chì mềm điền đầy các họa tiết hoa văn, tạo thẩm mỹ nhưng chì làm câm tiếng lại. Vậy, trước tiên xin trình bày về kim loại thiếc trong hóa học của trống đồng thứ nhạc khí, độ vang, âm thanh trong và đẹp, còn Thần Đồng là nằm ở tỷ lệ kim loại chì-chì mềm điền đầy các họa tiết hoa văn, tạo thẩm mỹ nhưng chì làm câm tiếng lại. Vậy, trước tiên xin trình bày về kim loại thiếc trong hóa học của trống đồng thứ nhạc khí

Song trước khi đi vào cũng cần nói thêm: chức năng của Thần Đồng khác chức năng của Thần Nông: Thần Nông bảo vệ mùa màng cây trái và bảo vệ người nông dân, còn Thần Đồng phò trợ giúp sức, ảo vệ vương quyền- Nhà vua.

Vậy, Thần Nông bắt nguồn từ cư dân cấy lú nước, còn Thần Đồng bắt nguồn từ CON NGƯỜI -THẦN LINH.

 

trong-dong-2-1662280205.jpg
Trống đồng (ảnh minh hoạ, nguồn st)

 

 

 

Kim loại thiếc trong hóa học trống đồng

Ngày nay, việc chế tạo những hiện vật kim loại gia dụng và máy móc cho ngành công nghiệp ở các nước có ngành công nghiệp tiên tiến, các nhà khoa học phải tính tỉ lệ hóa học cho từng hiện vật rất cụ thể, như ở Trung Quốc có sách Khảo Công ký của Đái Chấn đã đúc kết hóa học của các loại như chuông đỉnh (thứ nhạc khí) đại đao, rìu, búa (loại chém bổ) được ghi chép cụ thể bằng chữ Hán như sau:

"Kim hữu lục tễ. Lục phân kỳ kim nhi tích cư nhất, vị chi chung đỉnh chi tễ. Ngũ phân kỳ kim nhi tích cư nhất, vị chi phủ cân chi tễ. Tứ phân kỳ kim nhi tích cư nhất, vị chi qua kích chi tễ. Tam phân kỳ kim nhi tích cư nhất, vị chi đại nhẫn chi tễ. Ngũ phân kỳ kim nhi tích cư kỳ nhị, vị chi tước sát thỉ chi tễ. Kim tích bán, vị chi giám toại chi tễ” Nghĩa là: Đồng thau có sáu loại pha chế. Thiếc chiếm một phần sáu hợp kim là loại pha chế chuông đỉnh. Thiếc chiếm một phần năm hợp kim là loại pha chế rìu búa. Thiếc chiếm một phần ba hợp kim là loại pha chế đại đao. Thiếc chiếm hai phần năm hợp kim là loại pha chế dao gọt và đầu mũi tên. Thiếc chiếm một nửa hợp kim là loại pha chế gương đồng và đèn(1).

 

Tóm tắt tỷ lệ thiếc trong hóa học như sau:

- Thiếc chiếm gần khoảng 17% hợp kim chế tạo chuông đỉnh: chuông là nhạc khí đỉnh là đồ thờ.

- Thiếc chiếm khoảng 20% hợp kim, chế tạo rìu búa là công cụ chặt.

- Thiếc chiếm khoảng 25% hợp kim, chế tạo qua kích là vũ khí đâm bổ.

- Thiếc chiếm khoảng 33% hợp kim, chế tạo đại đao là vũ khí to bản để chém.

- Thiếc chiếm khoảng 40 % hợp kim chế tạo dao gọt và đầu mũi tên sắc, bén cứng.

- Thiếc chiếm khoảng 50 % là hợp kim chế tạo gương đồng và đèn, cần độ bóng nhẵn phản quang.

 Đặc tính của thiếc là sắc, cứng, bóng, âm vang, nếu tỷ lệ quá cao sẽ dòn dễ gẫy và bóng loáng loá mắt. Sáu hợp kim của Khảo công ký  tăng dần tỷ lệ kim loại thiếc từ 17 - 20 - 25 - 33 - 40 - 50 % trong hợp kim là tùy theo yêu cầu của sản phẩm. Vậy nhiều thiếc nhất (50%) là hợp kim làm gương soi và đèn cần độ bóng phản quang, còn ít thiếc nhất (17%) là hợp kim chế tạo chuông (nhạc khí) đỉnh (đồ thờ).

 

Hàm lượng kim loại chì trong hóa học một số "Thần Đồng Việt Nam".

Diệp Đình Hoa  cho biết, các tác giả Văn hoá Đông Sơn ở Việt Nam viết: Có thể nói rằng, đa số trống Đông Sơn được đúc từ hợp kim 3 thành phần: đồng, chì, thiếc. Gần 100 mẫu phân tích quang phổ và hoá học lấy từ các trống khác nhau, nằm rải rác trên khắp miền đất nước đã cho biết như vậy. Điều này chứng minh cho tính chất ổn định trong kỹ thuật pha chế nguyên liệu đúc trống đồng.Tất nhiên đây là sự ổn định có tính nguyên tắc chung, nếu đi sâu phân tích, so sánh hàm lượng từng nguyên tố sẽ thấy có những khác biệt không nhỏ. Ví dụ, hàm lượng đồng biến thiên khoảng từ 43% đến đến hơn 80%, hàm lượng chì từ hơn 5% đến hơn 21%, hàm lượng thiếc từ 0,05% đến (0, 1% (2) ở  loại I, loại II, loại III, loại IV Hegre (tên 4 loại trống ghi ở mục Bị chú) .

Một số mẫu phân tích hợp kim trống đồng::

Tên trống

đ ồng %

Chì %

Thiếc %

Bị chú

1.Quảng Thắng

2. Định Công III

3. Định Công I

4. Duy Tiên

5. Định Công II

6. Chợ Bờ

7. Đại Lộc

8. Làng Vạc

9. CÈm Thủy

10. Hoàng Lý

11. S ông Hi ếu

12. Hích

13. Phù Lưu

14. ĐH tổng hợp

15. Số 58. I 24

16. Ngọc Lạc

17. ĐH tổng hợp

18. Nghĩa Hòa

44,93

44,35

47,41

49,87

52,63

57,45

61,60

61,67

62,63

71,72

71,96

80,43

80,74

67,52

66,89

64,83

52,64

52,71

17,33

25,60

8,30

13,50

16,65

2,10

18,50

7,80

20,00

4,35

21,33

7,14

5,46

11,00

14,95

15,80

29,10

18,65

0,27

2,53

8,77

0,03

0,44

0,00

0,40

0,00

0,46

0,27

0,10

0,49

0,30

0,12

0,30

0,20

0,30

0,03

Loại I Heger

-

-

-

-

-

-

Loại II H

-

-

-

-

-

Loại II H

-

-

Loại III H

Loại IVH

Kết luận: Hợp kim Thần Đồng có hàm lượng chì cao trên 21% nhằm điền đầy họa tiết hoa văn trang trí, còn loại trống đồng hàm lượng chì thấp từ 11-15 %, là loại Thần Đồng ít hoa văn trang trí. Điều đó, chứng tỏ tiền nhân quan tâm tạo ra một tác phẩm nghệ thuật trang trí hoa văn, chứ không phải quan tâm tạo ra một nhạc cụ thuộc bộ gõ bằng đồng (trống đồng) cho nên không quan tâm đến tỷ lệ thiếc (Diệp Đình Hoa). Như vậy Thần Đồng là thần linh phò trợ bảo vệ nhà vua và biểu chương vương quyền.

Cũng cần nói thêm: những chiếc Thần Đồng được dẫn chứng ở bảng trên, đều được đúc thời kỳ muộn, sauThần Đồng Ngọc Lũ cho nên rất ít hoa văn. Trong số 500 chiếc Thần Đồng tìm thấy ở Việt Nam và cả Đông Nam Á thì chỉ có 4 chiếc có hoa văn nhiều và đẹp đều là loại I Heger ở Việt Nam. Đó là Thần Đồng Ngọc Lũ 1, Thần Đồng Hoàng Hạ, Thần Đồng Cổ loa 1 và Thần Đồng Sông Đà. Trong đó Thần Đồng Ngọc Lũ có trang trí hoa văn nhiều và đẹp nhất(3), nhưng do thuộc hàng cổ vật bảo vệ bí mật quốc gia cho nên 4 chiếc Thần Đồng này không công bố tỷ lệ hóa học ở bảng trên.    

 

Tìm lại tên gọi và chức năng ban đầu của cổ vật

Thần Đồng Việt Nan được Heger phân làm loại I trong IV loại của Đông Nam Á và Ông coi loại I xuất hiện đầu tiên ở miền Bắc Việt Nam(4). Trong đó,Thần Đồng Ngọc Lũ ra đời đầu tiên vào khoảng thế kỷ thứ VII (tr CN) và được phân đứng đầu bảng,- ký hiệu số 1a (5)Vì thế, Việc tìm lại tên gọi và chức năng ban đầu của trống đồng hay Thần Đồng thì phải căn cứ vào nguồn cứ liệu trong các sử sách của Trung Quốc và Việt Nam.

 

Tư liệu trong thư tịch của Trung Quốc.

Trung Quốc gọi là "đồng cổ" (trống đồng) vật thể thứ nhạc khí được ghi chép trong gần 40 đầu sách, nhưng ở đây chỉ dẫn 2 đầu sách ra đời đầu tiên: Đầu sách thứ nhất là Hậu Hán thư của Phạm Việp (424 - 425), đầu sách thứ hai là Quảng Châu ký của Bùi Thị (420-487). Sách Hậu Hán thư quyển 54 có mục Mã Viện truyện tường trình về việc Mã Viện lấy được trống đồng Lạc Việt ở Giao Chỉ, đem về nước nấu chảy đúc thành ngựa mẫu. Nguyên văn đoạn văn đó như sau: “Viện hiếu kỵ mã thiệt biện danh mã ư Giao Chỉ đắc Lạc Việc đồng cổ nãi trù vi mã thức… mã cao tam xích ngũ thốn vi tứ xích tứ thốn hữu chiếu trí Tuyên Đức điện hạ dĩ vi thanh mã thức yên”. Nghĩa là: Mã Viện thích cưỡi ngựa, giỏi phân biệt ngựa tốt, ông ta lấy được trống đồng Lạc Việt ở Giao Chỉ đem về nước nấu chảy đúc thành ngựa mẫu ... ngựa mẫu cao 3 thước 5 tấc (khoảng hơn 1m), vòng thân ngựa 4 thước 4 tấc (khoảng 1,5m), vua xuống chiếu đặt ngựa mẫu trước cửa điện Tuyên Đức để làm ngựa mẫu tốt "(6).

 Như vây, tên gọi "đồng cổ" (trống đồng) là do Mã Viện ngụy tạo, nhằm làm vật "yểm". Bởi từ địa vị "Thần Đồng" biểu tượng vật tổ, Ấn tín báu vật truyền ngôi của Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc thành con ngựa cho đế chế Hán cưỡi, hẳn vùng đó sẽ yên.

 Sách Quảng Châu ký của Bùi Thị ghi lại việc người Lý người Lão đúc đồng cổ (trống đồng). Đoạn văn đó như sau: "Lý Lão trù đồng duy cao đại vi quý diện khoát trượng dư sơ thành huyền ư đình khắc thần trí tửu chiếu chỉ đồng loại lai giả doanh môn, hào phú tử nữ dĩ kim ngân vi đại thoa chấp dĩ khấu cổ khấu cánh lưu di chủ nhân dã". Nghĩa là người Lý, người Lão đúc đồng làm trống. Trống lấy cao lớn làm quý. Lúc mới đúc xong, treo trống ở sân, buổi sáng bày rượu mời đồng loại đến. Người đến đầy cửa. Con trai con gái nhà hào phú lấy vàng bạc làm "thoa" lớn, cầm thoa gõ trống, gõ xong để thoa lại cho nhà chủ. Người Lý người Lão chỉ cư dân phi Hán ở Quảng Châu, tộc danh này xuất hiện trong thư tịch thời Tam Quốc (thế kỷ III) mà nay có người coi là tổ tiên của người Choang - Nhưng theo nhà Dân tộc học người Thái Cầm Trọng cho rằng: Người Lý là người Lào và người Lão là người Lự, hậu duệ của hai tộc danh này hiện đang cư ngụ ở Đông Dương (trao đổi riêng).

 Tiếp theo một số sách khác của Trung Quốc vẫn gọi trống đồng là nhạc khí nhưng cũng là vật biểu chương vương quyền. Sách Tùy thư (636) có đoạn ghi: " Tục người Lão thích đánh nhau, gây nhiều thù oán, muốn đánh nhau thì đánh trống này, người đến như mây. Người có trống gọi là  đô lão, mọi người đều tự nguyện phục tùng; ngay Triệu Đà cũng là một Đô lão theo ngôn ngữ Lĩnh Nam"(7) .

 

Nguồn tư liệu  ở Việt Nam.

Ở Việt Nam từ thời đại Hùng Vương đã suy tôn loại cổ vật này là Thần Đồng biểu tượng "vật linh" (phi vật thể).Thần Đồng có công phò trợ, giúp sức để vua Hùng chiến thắng trong các trận đánh quân Hồ Tôn, cho nên Ngài được vua Hùng tấn phong cho là Đại Vượng và lập đền thờ  trên núi Khả Lao, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa (nơi tìm ra nguyên liệu kim loại đồng đầu tiên) ngôi đền có tên "Đền Sơn Thần Đồng" (8). Thần Đồng rất linh thiêng thường hiển linh tiếp ứng các tướng lĩnh và nhà vua trong những trân mạc. Chẳng hạn, năm 976 Thập Đạo tướng quân Lê Hoàn đi dẹp giặc phương Nam, khi đến sông Bà Hoà, huyện Tĩnh Gia gặp mưa to, gió lớn thuyền bè không đi được.Thần Đồng hiển linh báo mộng và giúp sức. Lê Hoàn chắp tay vái lạy, lập tức gió yên lặng, trời quang mây. Đoàn thuyền tiếp tực Nam tiến. Trận đó quân ta đại thắng. Về sau, khi lên ngôi, nhà vua đã đến ngôi đền tạ lễ và đề 2 câu thơ:

Long Đình tích hiển Tam Thai lĩnh.

Mả thủy Thanh lai Bán nguyệt hồ.

 Hoặc Thần Đồng hai lần giúp vua Lý Thái Tông (1028-1054): Lần thứ nhât, khi còn thái tử Phật MÃ vâng lệnh vua cha Thái Tổ, dẫn quân đi chinh phạt ở phương Nam (1020), đến Trường Châu đóng quân tạm nghỉ. Canh ba đêm ấy, trong cõi mông lung, thái tử chợt thấy một dị nhân, thân cao 8 thước, mày râu cứng nhọn, mặc chiến bào, tay cầm bính khí, đến trước cúi đầu tâu: "Tôi là Thần Đồng ở núi Khả Lao nghe tin thái tử sang chinh phat phương Nam, tôi xin theo giúp để phá giặc lập chút công nhỏ" Thái tử vỗ tay khen ngợi rồi tỉnh dây luôn. Hôm sau tiến quân đến đất phương Nam, trận ấy, quả nhiên quân ta đại thắng. Khi khải hoàn về qua Trường Châu, thái tử cho quân sửa sang lại đền, lễ tạ rồi rin rước về thờ vọng ở Hà Nôi. Sử cũ ghi vị trí ấy là sau chùa Thánh Tho(9)nay là 353 đường Thuy Khuê. Lần thứ hai khi Thái Tổ băng hà (1028), thái tử lên nối ngôi, tức là Thái Tông. Đêm nằm mộng thấy Thần Đồng đến báo rằng: "Ba vị vương em vua mưu làm phản, định đem giáp binh cướp ngôi, xin nhà vua nên kịp đề phòng !" Vua thức dậy, giao cho các tướng sĩ phòng bị, nên cuộc biến loạn được dẹp yên. Lý Thái Tông hết sức lấy làm kinh dị, liền ban chiếu phong thần làm Thiên Hạ Minh Chủ Thần. Đó là vị thần chứng giám Hội thề Trung hiếu của các quan đại thần triều Lý vào ngày mồng 4 tháng 4 Âm lịch: nghi thức hội thề rất trang nghiêm kính cẩn, "đắp đàn ở trong miếu, cắm cờ xí, treo gươm giáo trước linh vị Thần Đồng. Các quan từ cửa Đông đi vào đến trước thần vị cùng uống máu ăn thề- quan Trung thư đọc lời thề: Làm con bất hiếu làm tôi bất trung  xin thần minh giết chết"(10). Hội thề Trung hiếu được Lý Thái Tông cho thành lập, sau vụ ba vương em vua là Đông Chinh, Dục Thánh và Vũ Đức làm phản.

 

Tổng kết hai nguồn cứ liệu ở Trung Quốc và Việt Nam

 Thứ nhất.Nguồn cứ liệu của Trung Quốc ở trong 2 đầu sách xuất hiện đầu tiên là sách Hậu Hán thư của Phạm Việp (424425) gọi là "đồng cổ" (trống đồng)- vật thể, thứ nhạc khi trong truyện Mã Viện; tiếp đến sách Quảng Châu ký  của Bùi Thị khoảng (420- 487) tuy vẫn gọi đồng cổ (trống đồng) song là để làm vật linh biểu chương vương quyền chứ không phải dùng làm thứ nhạc khí. Bởi khi các Tù trưởng đúc trống đồng xong không dùng dùi đánh thử để biết tiếng (vì, tên gọi loại cổ vật này là trống đồng thứ nhạc khí, tên ấy được loan đến vùng Lưỡng Quảng quá mới mẻ, chưa đi vào lòng người); Tiếp theo một số sách khác của Trung Quốc cũng gọi trống đồng là nhạc khí nhưng cũng là vật biểu chương vương quyền. Sách Tùy thư (636) có đoạn ghi: " Tục người Lão thích đánh nhau, gây nhiều thù oán, muốn đánh nhau thì đánh trống này, người đến như mây. Người có trống gọi là  đô lão, mọi người đều tự nguyện phục tùng; ngay Triệu Đà cũng là một Đô lão theo ngôn ngữ Lĩnh Nam". Đén sách Lĩnh iểu lục dị  của Lưu Tuân làm quan tại Quảng Châu khoảng (889-903) ghi: Nhạc của người Man Di có trống đồng. Hình dáng như yêu cổ (thân eo) nhưng một đầu có mặt. Mặt trống tròn hơn 2 thước. Mặt liền với thân. Đúc đúc toàn ằng đồng... toàn thân đều đặn dày hơn 2 phân. Đúc rất gỏi. Đánh trống tiếng vang trong trẻo như tiếng mai rùa. (11). Tiếng mai rùa thì lịch bịch chứ làm gì có trong trẻo. Như vậy, thuật ngữ đồng cổ (trống đồng) là ngụy tạo, nhằm tàn phá làm mất tính chất vật tổ của vị Thần Đồng phò trợ giúp sức cho vương quyền- nhà vua -Ấn tín, báu vật truyền ngôi của vương triều Việt Nam.

Thứ hai. Nguồn cứ liệu ở Việt Nam. Vương triều Việt Nam suy tôn loại cổ vật này là vị thần phò trợ, giúp sức bảo vệ Vương quyền -nhà vua, cho nên từ thời Hùng Vương vua Hùng đã phong cho Ngài là "Thần Đồng Đại Vương" và cho xây dựng đền thờ thì ngôi đền này có tên là "đền Sơn Thần Đồng"và ngôi đền ở Hà Nội do vua Lý Thái Tông cho xây dựng, cũng cùng tên "đền Sơn Thần Đồng". Còn tên ngôi đền "Sơn Thần Đồng Cổ" ở Thanh Hóa và ngôi đền "Sơn Thần Đồng Cổ" ở Hà Nội có thêm chữ "cổ" là mới thêm vào khi có tên "đồng cổ" trong sách Hậu Hán thư.

.Khi dân tộc ta giành lại được quyền tự chủ, Nhà nước phong kiến đã khôi phục lại tính tâm linh của Thần Đồng: vua Đinh Tiên Hoàng đã ban tặng cho làng Thượng Lâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội một chiếc Thần Đồng thờ trong đình làm Thần hoàng làng và Lý Thái Tông lập đền thờ Ngài và tấn phong cho Ngài là vị thần Minh chủ Linh ứng Chiêu cảm Bảo hựu Đại vương vị Thần chứng giám Hội thế Trung hiếu của các quan đại thần triều Lý và kéo đến nhà Trần thì ngừng lại ở nhà Hồ (do chiến sự).

Tóm lại. Trống đồng một nhạc khí là căn cứ vào tỷ lệ 17% kim loại thiếc trong hợp kim, còn Thần Đồng vật tổ là căn cứ vào tỷ lệ 25 % kim loại chì trong hợp kim, chì mềm điền đầy các hoa văn, nhưng chì làm câm tiếng lại. Vì thế, ở Việt Nam và Đông Nam Á từ thời cổ đều thờ Thần Đồng trong các đền miếu và không có tục đánh trống đông(12)-tức là không theo ngụy tạo trống đồng của Mã Viện.

 

Học giả của thế giới nói về Thần Đồng Việt Nam 

Thần Đồng, hiện vật phi vật thể, thần linh- vật "tổ" biểu chương vương quyền -nhà vua, nhưng bị Mã Viện ngụy tao thành trống đồng hiện vật. Cho nên, đã gần 2000 năm, sự việc ấy không những gây nên những hệ lụy khôn lường cho loại vật linh của dân tộc ta mà còn làm chệch hướng nghiên cứu của giới khoa học trong nước và thế giới. Đó là việc đều gọi trống đồng thứ nhạc khí, mà không chứng minh được việc đánh trống đồng ở người Kinh và các nước Đông Nam Á.  

Vì thế, nhà bác học Pháp Lous.Bezacier có những hiểu biết sâu rộng về lịch sử văn minh Việt Nam và để chuẩn bị cho cuối đời (1972) khi hệ thống lại các công trình của mình, trong đó có bộ sách Giáo khoa về khảo cổ học ở Viễn Đông, nhan đề Việt Nam - Từ tiền sử đến cuối thời Trung Hoa chiếm đóng cũng đã phải thốt lên: "Phương Tây sau gần một thế kỷ ( giữa thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX) nghiên cứu, hoàn toàn không hiểu, không biết gì chắc chắn cả về nguồn gốc của trống đồng, cũng như về công dụng và ý nghĩa của nó" (13).

Pr. Heger người Đức sách Những chiếc trống kim khí ngoại Ấn (1902) với 265 chiếc sưu tập ở các Bảo tàng Đông Nam Á và châu Âu, Ông đo các kích cỡ, vẽ lại hoa văn của từng chiếc. Qua đó ông xếp làm 4 loại ký hiêu: I-II-III-IV và coi loại I xuất xứ đầu tiên ở miền Bắc Việt Nam(14).  

Phải đến GS H. H.Loofs-Wwiosowa người Australia gốc Đức, với thuyết Biểu chương vương quyền (regalia) coi trống đồng là vật tượng trưng cho quyền lực hợp pháp. Ông cho  rằng có một quyền uy tôn giáo tồn tại ở bắc Việt Nam trong thời cổ, tương tự quyền uy của giáo hoàng phương Tây. Theo ông các tù trưởng bộ lạc ở nhiều vùng Đông Nam Á đã cử sứ bộ đến bắc Việt Nam để xin ban các trống đồng mà với chúng, họ có thể làm vua hợp pháp (15).

Kết luận.Trung Quốc muốn xóa sổ Thần Đồng là vật linh biểu chương vương quyền- nói cách khác đó là biểu tượng vật Tổ của dân tộc Kinh -Giao Chỉ cho nên họ mới nói nhiều trong gần 40 đầu sách, còn ở Việt Nam ý nghĩa chủ yếu của cổ vật là ở ngôi đền thờThần Đồng được lập từ thời Hùng Vương ở Thanh Hóa. Sau khi dân tộc ta giành lại được quyền tự chủ mới nói đến trong hai đầu sách: Việt điện u linh và sách Lĩnh Nam chích quái rồi đến sách Đại Việt sử ký toàn thư và sách Đại Nam nhất thống chí; hoặc những nghiên cứu của các học giả thế giới. Tuy nhiên do Mã Viện xuyên tạc từ Thần Đồng là vật Tổ nguồn cội, thành vật thể "đồng cổ" (trống đồng) làm lạc hướng nghiên cứu của các nhà khoa học. Để nhà bác học Pháp L.Bezacier phải thốt lên lời khẩn thiết: "Sau 100 năm phương Tây nghiên cứa, hoàn toàn không hiểu, không biết gì chắc chắn cả về nguồn gốc của trống đồng, cũng như về công dụng và ý nghĩa của nó"

Vì vậy, là tác giả người Việt Nam, khi viết về loại cổ vật này, phải để công tìm hiểu cho ra những cứ hiệu thuộc bản chất của cổ vật. Vì thuật ngữ trống đồng do ngụy tạo đã có gần 2000 năm. Đừng dễ giải, có tác giả phóng tác bài viết rằng, "Trống đồng là thứ nhạc khí của Đông Nam Á" mà không dẫn ra được một cứ liệu nào đánh trống đồng ở nước nào cả. Kiểu bài viết không có cứ liệu như thế , đã đánh đồng, trộn lẫn cái sai vào cái đúng làm loãng chủ đề, gây cho độc giả nhận thức không đúng về bản chất của cổ vật Thần Đồng là vật Tổ biểu chương vương quyền của dân tộc ta.

Tóm lại. Người ta cho rằng, văn hóa Ấn Độ là kiến trúc đền đài, nguy nga tráng lệ, văn hóa Trúc Quốc là chữ nghĩa, thư tịch, văn hóa Việt Nam là biểu tượng, thần chú vật hèm -tâm linh. Vì thế, khi nghiên cứu văn hóa Việt Nam là phải gạt bỏ lời lẽ ngụy tạo trong thư tịch của Trung Quốc mà, lấy văn hóa biểu tượng bản địa nằm trong tầng văn hóa tâm linh làm chuẩn thì mới tìm ra được Bản sắc văn hóa Việt Nam.

Chú thích

1.Đái Chấn. Khảo công ký đồ (chữ Hán). Thượng Hải 1956 tr 39, Dẫn theo Nguyễn Duy Hinh Trống đồng quốc bảo Việt Nam Nxb Khoa học xã hội 2001, tr  45- 46.

2.Diệp Đình Hoa, Qua thành phần hóa học của những chiếc trống cổ Việt Nam . Trong  Những phát hiện mới  về khảo cổ học năm 1981 tr  167.

3.Viện Khoa học xa hội Việt Nam DongSon Drums Viet Nam Nxb Khoa học xã hội Hà Nội1998, tr4-10.

4.P.Heger, Những trống kim khí ở Đông Nam Á (chữ Đức) Laixich, 1902, bản sao lưu tại Viện bảo Tàng lịch sử Việt Nam, Tiến sĩ Ngô Thế Phong cung cấp

5.Phạm Minh huyền ,Trịnh Sinh, Nguyễn văn Huyên sđ,d tr 41-45.

6.Nguyễn Duy Hinh Trông đông quốc ảo Việt Nam Nxb Khoa học xã hội Hà Nội 2001, tr 17.

7.Nguyễn Duy Hinh sđ,d Tr 24.

8.Đại Nam nhất thống chí Nxb Thuận Hóa 1997, tập 2 tr 255-256.

9.L ý Tế Xuyên,Việt điện u linh, Nx b Văn hóa Hà Nội 1990 tr 83-84.

10.Đại Việt Sử ký toàn thư  tập 1 k ỷ nhà Lý, Nxb Văn hóa TT 2003 tr 378

11. Dẫn theo Nguyễn Duy Hinh sđ,d tr  24.

12.Louis. Bezacier Lịch sử nghiên cứu trống đồng ở châu Âu Pari (1973) bản dịch Tạp chí Khảo cổ học số 20, 1974, tr 71

13.Dẫn theo Phạm Huy Thông Lời giới thiệu sách Dong Son Drums in Việt Nam, sđd tr 274.

14.Pr.Heger sđ,d.

 15.1H.H.E Looc—Wiosowa. The distribủrion of Dong Son drums :somes thoughts in Peter Snoy (cd)  Ethnologie und Geshiete (Sự phân bố của trống Đông Sơn : vài suy nghĩ)  Trong Perter  ( chủ biên)  "Dân tộc học và lịch sử ”  Wicsbaden 1983 tr 410-417 Dẫn theo sách Lịch sử tư tưởng Việt Nam t-1Nxb Khoa học xã hội 1993 tr 61.

 

 

Bạn đang đọc bài viết "Trống đồng là nhạc khí hay "Thần Đồng" biểu tượng vật linh!" tại chuyên mục Nghiên cứu. | Hotline: 08.4646.0404 | Email: toasoan@vanhoavaphattrien.vn